![]() Hiện chưa có sản phẩm |
| TỔNG TIỀN: | 0₫ |
| Xem giỏ hàng | Thanh toán |
1. Khái niệm:
Xoa bóp là một phương pháp phòng và chữa bệnh. Đặc điểm của nó là dùng bàn tay, ngón tay là chính. Giản tiện, rẻ tiền vì chỉ dùng bàn tay để phòng bệnh và chữa bệnh do đó có thể dùng trong bất kỳ hoàn cảnh nào mà không bị lệ thuộc vào các phương tiện khác. Có hiệu quả vì có tác dụng phòng bệnh và chữa bệnh nhất định.
2. Nguồn gốc:
Tây y và Đông y đều có xoa bóp, được lý luận của mỗi nền y học chỉ đạo. Nhìn chung xoa bóp bằng tay của hai nền y học đều giống nhau một số thủ thuật. Ngày nay do tiến bộ của khoa học kỹ thuật nên xoa bóp của Tây y có các phương tiện máy móc hỗ trợ.
Xoa bóp có từ lâu đời và ngày càng phát triển. Từ thời xa xưa con người đã biết dùng đôi bàn tay khéo léo để xoa bóp, vuốt ve nhằm làm dịu những đau đớn trên cơ thể. Có thể nói xoa bóp là một cách chữa bệnh được ra đời sớm nhất. Nó được xây dựng và phát triển trên cơ sở những kinh nghiệm tích luỹ được trong quá trình đấu tranh với bệnh tật và bảo vệ sức khoẻ của con người. Xoa bóp trong nền y học dân gian nước nào cũng có. Ở nước ta từ thời Hồng Bàng (truyền thuyết cho rằng bắt đầu từ năm 2879 trước Công nguyên), nhân dân đã biết dùng lá ngải cứu, lá cúc tần xoa bóp chườm nóng, lá trầu không hơ nóng xát vào vùng cạnh thắt lưng... Từ đó tới nay xoa bóp ngày càng phát triển. Trong sách vở của các danh y nổi tiếng đã ghi lại dùng xoa bóp để phòng và chữa bệnh như Tuệ Tĩnh, Hoàng Đôn Hòa, Hải Thượng Lãn Ông, Nguyễn Trực...
3. Phép trị:
3.1. Bổ:
Là bồi bổ, giúp cho âm dương khí huyết bị hư trở về trạng thái bình thường. Trong phép bổ lấy xoa, day, ấn làm chủ. Thủ thuật cần làm nhẹ, dịu dàng, chậm, thuận đường kinh, không nên kích thích mạnh.
3.2. Tả:
Là làm mất phần quá thịnh của cơ thể; dùng trong chứng thực do tà khí gây nên như nhiệt kết gây ra bụng chướng đầy, đại tiện không thông, thực tích.... Thủ thuật cần làm nhanh mạnh và ngược đường kinh.
3.3. Ôn (làm ấm):
Là đuổi hàn tà, trợ dương khí làm cho cơ thể ấm lại; thường dùng trong chứng hàn ở trong như lạnh bụng ỉa chảy, dương hư.... Ấn, xoa, day là thủ thuật chính cần làm hoà hoãn để sinh ra nhiệt ở cả cơ nhục và tạng phủ.
3.4. Tiêu:
Làm tiêu tan hoặc trừ ứ đọng ở kinh lạc; dùng trong các trường hợp khí trệ, huyết ứ, phong hàn thấp làm tắc kinh lạc. Hay dùng day, bóp, lăn thường làm mạnh.
3.5. Hãn (làm ra mồ hôi):
Là làm mở lỗ chân lông cho mồ hôi thoát ra, qua đó đuổi tà khí đang ở biểu ra khỏi cơ thể. Nếu cảm phong hàn thì dùng bấm, day từ nhẹ đến nặng dần, để tăng cường kích thích làm cho ra mồ hôi, khu phong tán hàn. Nếu cảm phong nhiệt thì thủ thuật nhanh nhẹ và dẻo để khu phong thanh nhiệt dùng xoa, day, lăn, bóp.
6.6. Hòa (điều hòa):
Là phép dùng để đuổi tà khí mà không hại chính khí; dùng trong các trường hợp tà ở bán biểu bán lý hoặc quan hệ giữa tạng phủ không điều hoà như can vị bất hoà, can mộc khắc tỳ thổ. Thủ thuật lấy xoa, day, ấn làm chính, làm vừa sức, dịu dàng. Huyệt thường dùng chương môn, kỳ môn, thái xung, trung quản.
3.7. Thanh (làm mát):
Là hạ nhiệt, giáng hoả để giữ tân dịch, chống khát và trạng thái bồn chồn; dùng trong các trường hợp nhiệt ở trong. Thủ thuật cần mạnh, nhanh, ngược đường kinh; huyệt thường dùng khúc trì, hợp cốc, thủ tam lý.
3.8. Hạ (xổ):
Giúp người bệnh đi cầu được; chủ yếu xoa bóp vùng bụng theo chiều kim đồng hồ, nhờ tác động cơ giới và tác động lên huyệt để thông hạ.
(Mời xem tiếp phần 2 của bài ở kỳ sau)
4. Tác dụng theo Đông y:
Quan hệ giữa xoa bóp với thuyết âm dương, ngũ hành: trong xoa bóp cũng phải chẩn đoán rõ âm dương, tạng phủ bị bệnh, xác định bệnh hư hay thực ở một hay nhiều tạng; nếu bệnh thuộc thực thì phải tả, làm động tác mạnh và nhanh; nếu bệnh thuộc hư thì phải bổ, làm động tác nhẹ, dịu dàng.
Quan hệ giữa xoa bóp với thuyết tạng tượng, vệ khí, dinh huyết: tạng tượng là ngũ tạng, lục phủ, phủ kỳ hằng, ngũ quan, tinh khí thần và các nhóm chức năng của chúng. Kinh lạc là hệ thống mạng ngang dọc chằng chịt khắp cơ thể bên trong vào đến tạng phủ, bên ngoài ra đến cơ da, là nơi tuần hoàn của khí huyết để đi nuôi dưỡng và làm ấm cơ thể, điều hoà âm dương và làm cơ thể thành một khối thống nhất. Vệ khí là khí bảo vệ cơ thể, dinh khí (trắng trong) và huyết (đỏ) chạy trong lòng mạch nuôi dưỡng cơ thể. Quá trình hoạt động chuyển hoá của cơ thể là nhờ tác động của khí. Bệnh tà qua huyệt xâm nhập vào cơ thể thì lần lượt vào lạc mạch trước, sau đó chuyển vào kinh và sau cùng chuyển vào tạng phủ, có thể trực tiếp tác động vào tạng phủ ngay, lúc đó sẽ gây ra dinh vệ mất điều hoà, kinh lạc bị bế tắc làm khí huyết ứ trệ (gây đau nhức) và làm rối loạn chức năng của tạng phủ. Xoa bóp thông qua tác động vào huyệt, kinh lạc đuổi ngoại tà, thông kinh lạc, điều hoà dinh vệ và chức năng của tạng phủ.
5. Tác dụng theo Tây y:
5.1. Đối với da:
Da có tầm quan trọng rất lớn đối với cơ thể, nó bao bọc cơ thể con người và nó có diện tích vào khoảng 15.000 cm². Trong cơ thể, da thải hơi nước gấp đôi phổi (Mỗi ngày chúng ta thải ra khoảng 600 - 900ml mồ hôi, mồ hôi chứa 98 - 99% là nước, còn lại là ure, muối và một số chất khác.), nó cũng là cơ quan thẩm thấu và hô hấp. Da cũng là cơ quan nhận cảm, tức là nhận những kích thích nóng lạnh, áp lực, xúc giác (trong đó có xoa bóp), truyền những kích thích vào hệ thống thần kinh trung ương và tiếp nhận những phản ứng trả lời của cơ thể đối với kích thích đó. Vì vậy khi xoa bóp có tác dụng trực tiếp đến da và thông qua da ảnh hưởng đến toàn thân. Khi xoa bóp lớp sừng của biểu bì được bong ra làm cho hô hấp của da được tốt hơn, mặt khác tăng cường chức năng của tuyến mỡ, tuyến mồ hôi nên sự đào thải các chất cặn bã qua các tuyến mồ hôi được tốt hơn. Xoa bóp làm cho mạch máu giãn tăng cường tuần hoàn động mạch và tĩnh mạch có lợi cho việc dinh dưỡng ở da, làm cho da co giãn tốt, da bóng đẹp và mịn, có tác dụng tốt đối với chức năng bảo vệ cơ thể của da, mặt khác xoa bóp có thể làm cho nhiệt độ của da tăng lên do mạch tại chổ và toàn thân giãn. Khi xoa bóp các chất nội tiết của tế bào được tiết ra, thấm vào máu và cơ thể tăng cường hoạt động của mạch máu và thần kinh ở da, mặt khác thông qua phản xạ thần kinh, xoa bóp có tác động đến toàn cơ thể.
5.2. Đối với hệ thần kinh:
Xuất phát từ học thuyết về thần kinh trong cơ thể của Sét - Sê - Nốp và Pavlov, tác dụng của xoa bóp đối với cơ thể thì vai trò của hệ thần kinh là chủ đạo, tất cả các chức năng của cơ thể người đều do hệ thần kinh điều khiển, cơ thể thông qua hệ thần kinh có những phản ứng đáp lại tích cực đối với xoa bóp. Rất nhiều tác giả cho rằng xoa bóp có ảnh hưởng rất lớn đối với hệ thần kinh thực vật, nhất là đối với hệ giao cảm, qua đó gây nên những thay đổi trong một số nội tạng và mạch máu; ví dụ phát C7 (C là ký hiệu của đoạn đốt sống cổ, 7 là thứ tự của đốt sống ở đoạn C tính từ trên xuống) có thể gây phản xạ cơ tim (co lại); xoa bóp có thể gây nên thay đổi điện não kích thích nhẹ nhàng gây hưng phấn, kích thích mạnh thường gây ức chế.
5.3. Đối với cơ:
Xoa bóp có tác dụng làm tăng tính đàn hồi của cơ, tăng năng lực làm việc, sức bền của cơ và phục hồi sức khoẻ cho cơ nhanh hơn khi không xoa bóp. Khi cơ làm việc quá căng gây nên phù nề co cứng và đau, xoa bóp có thể giải quyết các chứng này. Ngoài ra nó có tác dụng tăng dinh dưỡng cho cơ vì vậy xoa bóp chữa teo cơ rất tốt.
5.4. Đối với gân khớp:
Xoa bóp có khả năng tăng tính co giãn, tính hoạt động của gân, dây chằng, thúc đẩy việc tiết dịch trong cơ khớp và tuần hoàn quanh khớp, nó có thể dùng để chữa bệnh khớp.
5.5. Đối với hệ tuần hoàn:
Xoa bóp toàn thân làm cho một lượng máu khá lớn chuyển vận từ nội tạng ra da và lại làm cho lượng máu ấy chuyển vận từ da vào nội tạng. Sự chuyển vận này làm cho tuần hoàn máu trong cơ thể được lưu thông thuận lợi, tạo điều kiện tốt cho quá trình thay cũ đổi mới trong các tế bào và tăng cường sự dinh dưỡng toàn thân. Xoa bóp làm cho máu trong tĩnh mạch lưu thông dễ dàng, nhờ đó máu trong động mạch cũng chảy dễ dàng và tim làm việc nhẹ hơn. Đối với những người yếu tim, xơ cứng động mạch, loạn nhịp tim mà áp dụng xoa bóp ở vùng ngực trái với mức độ vừa có hiệu quả tốt.
5.6. Đối với hệ bạch huyết:
Trong cơ thể con người, ngoài hệ thống mạch máu ra còn có một hệ thống nữa là hệ thống bạch huyết. Hệ bạch huyết gồm có một hệ thống mao mạch bạch huyết, mạch và bạch huyết trong đó bạch huyết chuyển động. Mạch bạch huyết tựa như một hệ thống lọc loại bỏ chất thừa của chất dịch mô hoặc dịch trong các cơ quan. Xoa bóp giúp cho việc vận chuyển bạch huyết được tăng cường. Dòng máu và dòng bạch huyết tăng trước tiên tạo điều kiện giảm hiện tượng ngừng trệ và sự tiết dịch ở vùng khớp, ổ bụng và có tác dụng tiêu nề.
5.7. Đối với hệ hô hấp:
Khi xoa bóp thở sâu, có thể do trực tiếp kích thích vào thành ngực và phản xạ thần kinh gây nên, do đó có tác giả dùng xoa bóp để chữa các bệnh khí phế thũng, hen phế quản, xơ cứng phổi... để nâng cao chức năng thở và ngăn ngừa sự suy sụp của chức năng thở.
5.8. Đối với hệ tiêu hoá:
Xoa bóp có tác dụng tăng cường nhu động của dạ dày, của ruột và cải thiện chức năng tiêu hoá. Khi chức năng tiết dịch tiêu hoá kém, dùng kích thích mạnh để tăng tiết dịch. Khi chức năng tiết dịch của tiêu hoá quá mạnh, dùng kích thích vừa và nhẹ để giảm tiết dịch.
5.9. Đối với quá trình trao đổi chất:
Xoa bóp làm tăng lượng nước tiểu bài tiết nhưng không thay đổi độ a xít trong máu. Xoa bóp toàn thân có thể tăng nhu cầu dưỡng khí 10 - 18%, đồng thời cũng tăng lượng bài tiết thán khí.
6. Thủ thuật thường dùng:
6.1. Xát: là dùng gốc gan bàn tay, mô ngón út hoặc mô ngón cái xát lên da theo hướng thẳng (lên, xuống hoặc sang trái, sang phải), tay thầy thuốc di chuyển trên da người bệnh, có khi dùng dầu, bột tale để làm trơn da. Toàn thân chỗ nào xát cũng được. Tác dụng thông kinh lạc, lý khí, giảm sưng đau, khu phong, tán hàn, thanh nhiệt.
6.2. Xoa: là dùng vân ngón tay, gốc bàn tay hoặc mô ngón tay út, ngón tay cái xoa tròn trên da chỗ đau; tay thầy thuốc di chuyển trên da người bệnh; là thủ thuật mềm mại, thường dùng ở bụng hoặc nơi có sưng đỏ; tác dụng tăng cường tiêu hoá, thông khí huyết, giảm sưng đau.
6.3. Day: là dùng gốc bàn tay, mô ngón tay út hoặc mô ngón tay cái hơi dùng sức ấn xuống da người bệnh và di chuyển theo đường tròn; tay thầy thuốc và da người bệnh dính với nhau, da người bệnh di chuyển theo tay thầy thuốc; thường làm chậm còn mức độ mạnh hay nhẹ, rộng hay hẹp tuỳ tình hình bệnh lý; là thủ thuật mềm mại hay làm nơi đau, nơi nhiều cơ; tác dụng giảm sưng đau, khu phong, thanh nhiệt, giúp tiêu hoá.
* Day và xoa là hai thủ thuật chính để chữa sưng tấy.
6.4. Ấn: là dùng ngón tay cái hoặc ngón trỏ ấn lên huyệt, nếu ấn ở chỗ rộng hơn thì có thể dùng gốc bàn tay, mô ngón út, mô ngón cái; tác dụng thông kinh lạc, khứ ứ, giảm đau.
6.5. Miết: là dùng vân ngón tay cái miết chặt vào da người bệnh rồi miết theo hướng lên xuống hoặc sang trái sang phải; tay thầy thuốc di động và kéo căng da của người bệnh; hay dùng ở đầu, bụng; tác dụng khai khiếu, tỉnh thần, bình can giáng hoả,làm sáng mắt, nếu dùng ở bụng thì kiện tỳ.
6.6. Phân: là dùng vân các ngón tay hoặc mô ngón tay út của hai tay, từ cùng một chỗ tẽ ra hai bên theo hướng ngược nhau; dùng ở đầu, mặt, ngực, lưng; tác dụng hành khí, tán huyết, bình can, giáng hoả.
6.7. Hợp: là dùng vân các ngón tay hoặc mô ngón tay út của hai tay từ hai chỗ khác nhau đi ngược chiều và cùng đến một chỗ; dùng ở đầu, mặt, ngực, lưng; tác dụng bình can giáng hoả, trợ chính khí, giúp tiêu hoá.
6.8. Véo: là dùng ngón tay cái với ngón tay trỏ kẹp và kéo da người bệnh lên, hai tay làm liên tiếp sao cho da của người bệnh luôn luôn như bị cuộn ở giữa các ngón tay của thầy thuốc; hay dùng ở lưng, trán; tác dụng bình can giáng hoả, thanh nhiệt, khu phong tán hàn, nâng cao chính khí.
6.9. Bấm: là dùng móng ngón tay cái bấm vào huyệt, động tác mạnh, nhanh, đột ngột thường điều trị cấp cứu; bấm ở các huyệt nhân trung, thập tuyên; tác dụng khai khiếu.
6.10. Điểm: là thủ thuật mạnh nhất, cần thận trọng với những người gầy yếu, suy nhược; thường làm ở mông, lưng, thắt lưng và tứ chi; tác dụng khai thông những chổ bế tắc, tán hàn, giảm đau.
Cách 1: ngón giữa để thẳng, ngón tay trỏ để cong đè lên ngón tay giữa ấn vào huyệt hoặc vị trí nhất định.
Cách 2: ngón cái thẳng tựa vào bàn tay nắm chặt; dùng đầu ngón cái ấn mạnh vào huyệt, có thể kết hợp day tròn.
Cách 3: ở những vùng có khối cơ dày và khoẻ như thắt lưng, mông; gấp cẳng tay vào cánh tay, dùng điểm nhọn của khuỷu để tác động vào huyệt.
6.11. Bóp: là dùng hai bàn tay, ngón tay cái và ngón trỏ hoặc ngón cái và bốn ngón kia bóp vào thịt, gân hoặc huyệt ở nơi bị bệnh, lúc vừa bóp vừa kéo thịt lên; thường dùng ở cổ, gáy, vai, nách, lưng trên, mông, tứ chi; tác dụng giải nhiệt, khai khiếu, khu phong tán hàn, thông kinh lạc.
6.12. Đấm: là nắm tay lại dùng ô mô út đấm vào chỗ bị bệnh, thường dùng ở nơi nhiều cơ như lưng, mông, đùi; tác dụng thông khí huyết, tán hàn khu phong.
6.13. Chặt: là duỗi thẳng bàn tay, hai bàn tay úp vào nhau, dùng ô mô út chặt liên tiếp vào chỗ bị bệnh; thường dùng ở nơi nhiều cơ như lưng, mông, đùi; tác dụng thông khí huyết, tán hàn khu phong.
6.14. Lăn: là dùng mu bàn tay và ô mô út hoặc dùng các khớp giữa bàn tay và ngón tay hoặc dùng các khớp ngón tay vận động nhẹ nhàng khớp cổ tay với một sức ép nhất định lần lượt lăn trên da thịt người bệnh; thường lăn ở nhiều nơi và nơi đau; thủ thuật này có tác dụng thấm sâu vào da thịt, diện kích thích lớn, nên hay được dùng trong tất cả các trường hợp xoa bóp; tác dụng khu phong tán hàn, thông kinh lạc, làm khớp vận động được dễ dàng.
6.15. Phát: là bàn tay hơi khum khum, giữa lòng bàn tay lõm, các ngón tay khít lại với nhau phát từ nhẹ đến nặng vào chỗ bị bệnh; dùng ở vai, thắt lưng, tứ chi, bụng; tác dụng thông kinh lạc mềm cơ, giảm sức căng.
6.16. Rung: là người bệnh ngồi thẳng, hai tay buông thõng hơi nghiêng người về phía bên kia, thầy thuốc đứng hai bàn tay nắm cổ tay người bệnh kéo hơi căng, hơi dùng sức rung từ nhẹ đến nặng, chuyển động như làn sóng từ tay lên vai, vừa rung vừa đưa tay bệnh nhân lên xuống từ từ và cuối cùng giật nhẹ một cái, dùng ở tay là chính; tác dụng làm trơn khớp, giảm nhiệt, mềm cơ, giảm mệt mỏi.
6.17. Vê: là dùng ngón tay trỏ và ngón cái vê theo hướng thẳng thường dùng ở ngón tay, ngón chân, các khớp nhỏ; tác dụng làm trơn khớp, thông khí huyết.
6.18. Vờn: là hai bàn tay hơi cong bao lấy một vị trí, rồi chuyển động ngược chiều kéo theo cả da thịt người bệnh chỗ đó chuyển động theo; dùng sức phải nhẹ nhàng vờn từ trên xuống dưới, từ dưới lên trên; dùng ở tay chân, vai, lưng; tác dụng bình can, giải uất, thông kinh lạc, điều hoà khí huyết.
6.19. Vận động khớp cổ:
- Quay cổ: thầy thuốc đứng phía sau lưng, một tay đỡ cằm, một tay tỳ xương chẩm vận động đầu người bệnh nghiêng bên phải rồi nghiêng bên trái, hai tay thầy thuốc vận động ngược chiều nhau, góc độ tăng dần, làm vài lần khi thấy cổ mềm mại thì lắc mạnh sang phải và trái; có thể nghe thấy tiếng kêu “rắc” của khớp; không nhất thiếc phải gây được tiếng kêu “rắc”, không làm quá mạnh có thể gây tổn thương khớp.
- Nghiêng cổ: một cẳng tay thầy thuốc tỳ vào một bên cổ, tay kia tỳ vào xương đỉnh đẩy đầu nghiêng sang phía tay đỡ; tiếp tục làm bên đối diện.
- Ngửa và cúi cổ: một tay thầy thuốc tựa vào cằm, tay kia dựa vào xương chẩm, làm động tác cúi ngữa đầu.
6.20. Vận động khớp vai: một tay giữ vai, tay kia cầm cổ tay hoặc khuỷu tay người bệnh; quay vòng tròn cánh tay 2- 3 lần, đưa cánh tay vắt sang vai đối diện, đưa cánh tay xuuống dưới, ra phía sau và ép vào lưng; hai tay cài vào nhau để lên vai người bệnh, tay người bệnh để trên khuỷu tay thầy thuốc, từ từ đưa lên hạ xuống để đưa tay người bệnh lên cao.
6.21. Vận động khớp khuỷu: một tay giữ phía trên khớp khuỷu, một tay nắm cổ tay người bệnh rồi gấp duỗi.
6.22. Vận động khớp cổ tay: hai tay nắm bàn tay người bệnh, hai ngón cái để ở mô ngón cái và mô ngón út; ngón cái đẩy bàn tay ngữa ra sau, trong khi đó các ngón khác kéo góc bàn tay lại, ấn chặt cổ tay và kéo đầu cổ tay lên một lần.
6.23. Vận động cột sống:
- Vặn lưng: người bệnh nằm nghiêng, chân dưới duỗi tự nhiên, chân trên co đầu gối chạm gường, tay trên để ra sau lưng, tay dưới để tự nhiên; thầy thuốc tì một cẳng tay vào hông người bệnh, cẳng tay kia tì vào hõm trước vai, hai tay vận động ngược chiều nhau, khi lưng mềm mại thì đẩy hông ra trước, đồng thời kéo mạnh vai về phía sau, có thể nghe các khớp cột sống kêu “rắc”; đổi bên làm như trên.
- Ưỡn cột sống: người bệnh nằm sấp, thầy thuốc một tay ấn vào vùng thắt lưng, một tay nhấc cao 2 chân người bệnh.
6.24. Vận động khớp thắt lưng cùng: người bệnh nằm ngửa, co gập 2 chi dưới vào bụng, thầy thuốc một tay giữ đầu gối, một tay luồn xuống dưới xương cùng rồi nâng cao lên, làm cho cột sống cong hết mức, sau đó từ từ thả ra.
6.25. Vận động khớp háng: người bệnh nằm ngửa 2 chân duỗi thẳng
- Dạng khớp háng: để gót chân bên háng đau lên đầu gối bên lành, ngả chân đau xuống mặt gường.
- Khép khớp háng: hai chân co lại, bàn chân bám mặt gường, cẳng chân bên lành bắt chéo gối chân đau và đẩy gối chân đau xuống sát mặt gường.
- Gấp háng: co chân và gấp đùi lên bụng.
6.26. Vận động khớp gối:
- Nằm ngửa: bắp chân người bệnh gác lên cẳng tay thầy thuốc, tay kia để ở gối người bệnh, làm động tác co duỗi vài lần; rồi khi duỗi chân ra, đột nhiên ấn mạnh vào đầu gối làm gối giãn ra.
- Nằm sấp: gấp chân người bệnh để đưa gót chân ép vào mông.
6.27. Vận động khớp cổ chân:
- Quay cổ chân: tay phải giữ gót chân người bệnh, tay kia nắm ngón chân và quay cổ chân người bệnh 2 - 3 lần, rồi lấy tay đẩy bàn chân vào ống chân, duỗi bàn chân đến cực độ 2 - 3 lần.
- Kéo giãn cổ chân: tay phải giữ gót chân, tay trái nắm bàn chân cùng kéo dãn cổ chân.
* Mục đích của vận động khớp là phục hồi chức năng hoạt động của khớp; không nên làm động tác quá mạnh gây đau đớn, nhưng cũng không nên làm quá nhẹ không phục hồi được khả năng bình thường của khớp; tuỳ theo từng khớp mà có cách vận động khác nhau, nhưng nguyên tắc chung là vận động theo chức năng sinh lý (Phạm vi vận động bình thường) và biên độ vận động tuỳ tình trạng của từng khớp; tác dụng của vận động khớp thông lý mở khớp, tán nhiệt, làm tăng sức hoạt động của các chi.
Mỗi động tác vận động có thể làm vài lần.
Mỗi lần xoa bóp chỉ dùng một số thủ thuật mà thôi.
7. Xoa bóp từng bộ phận:
7.1. Xoa bóp đầu:
- Tư thế: tuỳ tình hình cụ thể người bệnh ngồi hoặc nằm.
- Huyệt: ấn đường, thái dương, đầu duy, bách hội, phong trì, phong phủ.
- Thủ thuật: véo, phân hợp, day, ấn, miết, bóp, vờn, chặt;
- Chỉ định váng đầu, nặng đầu, đau đầu do nội thương hoặc ngoại cảm, mất ngủ.
- Thao tác véo, miết hoặc phân vùng trán, day huyệt thái dương 3 lần, vỗ đầu (hai tay để đối diện nhau vỗ quanh đầu hai hướng trái ngược nhau), gõ đầu (dùng thủ thuật chặt bằng ngón tay gõ đầu người bệnh), bóp đầu (hai bàn tay bóp đầu theo hướng ra trước, lên trên, ra sau); ấn huỵệt bách hội và phong phủ, bóp gáy, bóp và vờn vai.
7.2. Xoa bóp cổ gáy:
- Tư thế: người bệnh ngồi.
- Huyệt: phong phủ, phong trì, đại chuỳ, kiên tỉnh, phế du; thủ thuật: lăn, day, bóp, ấn, vận động, vờn.
- Chỉ định: vẹo cổ, hoạt động cổ bị hạn chế, bong gân.
- Thao tác: day vùng cổ gáy, lăn vùng phong trì, đại chuỳ, kiên tỉnh, vừa làm vừa vận động nhẹ cổ người bệnh; tìm điểm đau nhất dọc cơ ức đòn chũm (chỗ đó thường cứng hơn chỗ khác) day từ nhẹ đến nặng; ấn các huyệt phong phủ, phế du, đốc du; vận động cổ; bóp huyệt phong trì, gáy, vai và vờn vai.
7.3. Xoa bóp lưng:
- Tư thế: người bệnh nằm sấp, hai tay để ở tư thế như nhau hoặc để xuôi theo thân hoặc để lên đầu.
- Huyệt: đại chuỳ, phế du, cách du, thận du, mệnh môn.
- Thủ thuật: day, đấm, lăn, ấn, phân hợp, véo, phát.
- Chỉ định: đau lưng, suy nhược thần kinh, bệnh dạ dày và ruột.
- Thao tác: day rồi đấm hai bên thắt lưng; lăn hai bên thắt lưng và cột sống; tìm điểm đau ở lưng, day từ nhẹ đến mạnh, ấn các huyệt đại chuỳ, phế du, cách du, thận du; phân hợp hai bên thắt lưng, véo cột sống 1 - 2 lần; vận động cột sống, vân động khớp thắt lưng cùng; phát huyệt mệnh môn 3 cái.
7.4. Xoa bóp chi trên:
- Tư thế: người bệnh ngồi, thầy thuốc đứng sau người bệnh.
- Huyệt: đại chuỳ, kiên tỉnh, kiên ngung, khúc trì, thiên tông, thủ tam lý, hợp cốc, dương trì.
- Thủ thuật: day, bóp, lăn, ấn, vờn, vận động, rung, vê.
- Chỉ định: viêm quanh khớp vai; đau khớp vai, khớp khuỷu, khớp cổ tay; công năng chi trên kém.
- Thao tác: day vùng vai, lăn vùng vai, bóp hoặc lăn cánh tay và cẳng tay; tìm điểm đau và day điểm đau; ấn các huyệt kiên tỉnh, kiên ngung, thiên tông, khúc trì, thủ tam lý, hợp cốc; vận động khớp đau, vê các ngón tay rồi kéo dãn, vờn và rung tay, phát huyệt đại chuỳ.
7.5. Xoa bóp chi dưới:
- Tư thế: người bệnh nằm ngửa.
- Huyệt: cự liêu, hoàn khiêu, thừa phù, uỷ trung, thừa sơn, côn lôn, thái khê, túc tam lý, dương lăng tuyền, phong long, giải khê, phục thỏ.
- Thủ thuật: day, lăn, bóp, ấn, vờn, phát, điểm, vận động.
- Chỉ định: đau chân, đau khớp ở chân, khớp hoạt động bị hạn chế, đau dây thần kinh hông to.
- Thao tác: day đùi và mặt trước cẳng chân, lăn đùi và cẳng chân; ấn các huyệt phục thỏ, túc tam lý, dương lăng tuyền, giải khê; vận động khớp đau; vê và kéo giãn ngón chân.
7.6. Xoa bóp ngực:
- Tư thế: người bệnh nằm ngửa.
- Huyệt: vân môn, đản trung, nhật nguyệt, chương môn, khuyết bồn.
- Thủ thuật: miết, phân, ấn.
- Chỉ định: đau ngực, tức ngực, vẹo sườn, khó thở.
- Thao tác: hai tay miết từ giữa ngực ra hai bên, các ngón tay để ở các kẽ liên sườn 1, 2, 3 và miết theo kẽ sườn 3 - 4 lần; phân ngực (mô ngón út hai tay sát dọc theo xương ức đến mũi kiếm xương ức rồi phân ra hai bên cạnh sườn - tránh chạm vào vú người bệnh nữ); ấn các huyệt vân môn, đản trung, nhật nguỵêt, chương môn, khuyết bồn.
7.7. Xoa bóp vùng bụng:
- Tư thế: người bệnh nằm ngửa.
- Huyệt: trung quản, quan nguyên, khí hải, thiên khu.
- Thủ thuật: miết, ấn, phân, xoa.
- Chỉ định: đau bụng, đầy bụng, ăn không tiêu, sôi bụng.
- Thao tác: miết từ huyệt trung quản xuống huyệt thần khuyết; ấn các huyệt trung quản, thiên khu, quan nguyên; phân, xoa bụng, phối hợp ấn.
8. Thực hành chữa một số chứng bệnh thông thường:
8.1. Đau đầu:
Là triệu chứng thường thấy của bệnh ngoại cảm (cảm mạo) hoặc nội thương; cách chữa xoa bóp đầu, nếu do ngoại cảm xoa bóp thêm cổ gáy, nếu do nội thương xoa bóp thêm lưng, ngày làm một lần hoặc cách ngày một lần.
8.2. Vẹo cổ:
Do ngủ gối cao thấp không đều, động tác quá nặng, không cẩn thận bị gió hoặc lạnh; cách chữa xoa bóp vùng cổ gáy. Phương pháp bật gân: kiểm tra, thầy thuốc dùng đầu ngón cái, tìm một huyệt ở sau lưng ngang với đốt sống lưng D6 (D là ký hiệu của đoạn đốt sống lưng, 6 là thứ tự của đốt sống ở đoạn D tính từ trên xuống) chỗ cuối cùng của cơ thang cách mỏm gai một khoát ngón tay (tương đương với huyệt đốc du), sẽ thấy một cơ ngắn nhỏ nằm chéo từ trên xuống dưới từ trong ra ngoài, muốn thử huyệt đã đúng chưa, dùng ngón cái ấn mạnh vào người bệnh cảm thấy nhức và xuyên lên vai; xử lý, dùng đầu ngón tay cái bấm vào thớ gân đó, bật về phía xương sống rồi lại bật ra ngoài, sau đó day một phút, người bệnh sẽ quay cổ được; nếu chưa hết đau bóp cơ ức đòn chũm cách chỗ bám vào đầu xương chũm một khoát ngón tay.
8.3. Chứng tý (bệnh thấp):
Như viêm đa khớp dạng thấp, bệnh khớp không có tiêu chuẩn chẩn đoán, viêm khớp thoái hoá...; tuy chia ra hành tý, thống tý và trước tý nhưng về thao tác thì cơ bản như nhau
- Chứng tý ở vai và chi trên xoa bóp cổ gáy, xoa bóp chi trên.
- Chứng tý ở lưng và thắt lưng xoa bóp lưng thêm động tác uốn lưng; khi người bệnh nằm sấp một tay ấn lưng xuống, một tay bê hai chân uốn cong người bệnh lên 2 - 3 lần; khi người bệnh ngồi một tay giữ hai vai người bệnh để làm động tác cúi ngữa lưng, một tay lăn vùng thận du.
- Chứng tý ở mông và chi dưới xoa bóp chi dưới.
8.4. Viêm quanh khớp vai:
Viêm quanh khớp vai là một bệnh mà tổn thương chủ yếu là gân, cơ, dây chằng và bao khớp; nguyên nhân phức tạp, có nguyên nhân tại chỗ, có nguyên nhân ở xa; trên lâm sàng chia 3 thể viêm quanh khớp vai đơn thuần, viêm quanh khớp vai thể tắc nghẽn và hội chứng vai cánh tay; tuỳ theo từng bệnh mà Đông y gọi kiên thống, kiên ngưng hay hậu kiên phong.
Cách chữa day vùng vai và 1/3 trên cánh tay 3 lần, lăn vùng vai và 1/3 trên cánh tay 3 lần, bóp vùng vai và cánh tay 3 lần; bấm các huyệt kiên ngung, nhu du, trung phủ, kiên tỉnh, thiên tông, cao hoang; vận động khớp vai và rung.
Chú ý khi bấm huyệt kiên ngung, một tay bấm, một tay nâng dần tay bệnh nhân lên; khi bấm huyệt nhu du, một tay bấm, một tay vắt tay người bệnh sang vai bên kia từ từ tăng dần; khi bấm huyệt trung phủ, một tay bấm, một tay quặt tay người bệnh ra sau lưng và nâng dần lên.
8.5. Đau dây thần kinh hông to (Thường gọi là thần kinh tọa):
Day từ thắt lưng dọc xuống đùi 3 lần, lăn từ thắt lưng xuống cẳng chân 3 lần, bóp từ thắt lưng xuống cẳng chân 3 lần; bấm các huyệt hoa đà giáp tích ở L4 - L5 (L là ký hiệu của đoạn đốt sống thắt lưng, 4 và 5 là thứ tự của đốt sống ở đoạn L tính từ trên xuống), thận du, đại trường du, thượng liêu, thứ liêu, hoàn khiêu, thừa phù, uỷ trung, thừa sơn; uốn chân một tay ấn sát cột sống, một tay nâng dần chân đau lên; vận động cột sống; người bệnh nằm ngữa gấp duỗi đùi vào ngực 3 lần, đến lần thứ 3 khi duỗi ra giật mạnh một cái; phát thắt lưng 3 lần.
8.6. Đau lưng cấp:
Là một bệnh thường thấy sau khi bê, mang vác nặng hoặc do động tác đột ngột thiếu chuẩn bị, cũng có khi do bị lạnh làm cơ và dây chằng co cứng gây đau, hạn chế vận động. Cách chữa day dọc hai bên cột sống vùng lưng và thắt lưng 3 lần, lăn dọc hai bên cột sống vùng lưng và thắt lưng 3 lần; bóp dọc 2 bên cột sống lưng, thắt lưng và mông 3 lần; đấm dọc hai bên cột sống 3 lần; bấm các huyệt hoa đà giáp tích vùng thắt lưng, cách du, thận du, đại trường du, cự liêu; uốn cột sống, vận động cột sống, phát mệnh môn 3 lần.
9. Lưu ý:
- Cần có nhận thức đúng về xoa bóp: xoa bóp là một phương pháp phòng và chữa bệnh như các phương pháp khác, cho nên có những bệnh có thể dùng xoa bóp để chữa như vẹo cổ, khớp hoạt động bị hạn chế, di chứng bại liệt trẻ em, đau lưng, tiêu hoá kém, suy nhược thần kinh...; có những bệnh có thể phối hợp xoa bóp với các phương pháp khác (xoa bóp ở vị trí thứ yếu) như trong một số chứng bệnh cấp tính, bệnh ở tạng phủ...
- Chống chỉ định xoa bóp: các bệnh cấp cứu ngoại khoa, chảy máu...; các bệnh nhiễm trùng; các u ác tính; các bệnh của da như chàm, ghẻ lở...; viêm tắc tĩnh mạch.
- Cần làm cho người bệnh tin tưởng vào phương pháp: để họ phối hợp tốt với thầy thuốc và phát huy sự nổ lực chủ động trong quá trình đấu tranh với bệnh tật.
- Cần có chẩn đoán rõ ràng rồi mới xoa bóp: không làm xoa bóp khi người bệnh quá đói hoặc quá no; người bệnh mới đến cần được nghỉ ngơi 5 - 10 phút, thủ thuật nặng hay nhẹ phải phù hợp với người bệnh; sau một lần làm xoa bóp, hôm sau người bệnh thấy mệt mỏi là đã làm quá mạnh, lần sau phải làm nhẹ.
- Khi xoa bóp thầy thuốc phải: luôn theo dõi diễn tiến trị liệu, thái độ phải hoà nhã, nghiêm túc; đối với người bệnh mới, nhất là phụ nữ cần nói rõ cách làm để họ yên tâm, phối hợp chặt chẽ với thầy thuốc và tránh những hiểu lầm đáng tiếc.
- Đợt chữa bệnh và thời gian một lần xoa bóp: để tránh hiện tượng nghiện xoa bóp và phát huy tác dụng, một đợt chữa bệnh thường 10 - 15 lần là vừa; với chứng bệnh mạn tính thường cách một ngày xoa bóp một lần hoặc một tuần hai lần; với chứng bệnh cấp tính một ngày có thể xoa bóp một lần; nếu xoa bóp toàn thân thường 30 - 45 phút/lần, nếu xoa bóp một bộ phận cơ thể thường 10 - 15 phút/lần.