CAU

CAU

 

Tên khoa học là Areca catechu L. Thuộc họ Cau - Arecaceae.

1. Công dụng

Trong đời sống cau được dùng để ăn trầu và là phẩm vật không thể thiếu trong các cuộc cưới hỏi…

Hạt cau có chất tanin; arecolin, arecailin gây chảy nước bọt nhiều, tăng tiết dịch vị, dịch ruột, co đồng tử, giảm nhịp tim, tăng nhu động ruột. Liều thấp kích thích thần kinh, liều cao ức chế.

Hạt cau vị cay đắng chát, tính ấm. Công dụng giáng khí, phá trệ, sát trùng, thông thủy. Trị giun sán, ăn uống tích trệ gây đau bụng, cước khí do sơn lam chướng khí và dịch lệ, lỵ, phù thũng.

Vỏ quả cau già vị cay ôn. Có công dụng hành thủy, hạ khí. Chữa phù nề, đầy trướng do lam sơn chướng khí. Khi sắc thuốc phải bỏ vào túi vải buộc chặt lại để tránh uống phải lông vướng họng.

2. Ứng dụng

- Tẩy giun sán: do nghiên cứu thấy nước sắc hạt cau có tác dụng làm tê liệt sán bò và sán lợn, nhưng chỉ mạnh đối với đầu con sán và những đốt chưa thành thục; trái lại hạt bí rợ có tác dụng chủ yếu là làm tê liệt khúc giữa và khúc đuôi con sán. Sáng sớm lúc đói bụng, ăn 60 - 120g hạt bí rợ cả vỏ, nếu bỏ vỏ thì chỉ ăn 40 - 100g. Hai giờ sau uống nước sắc hạt cau, trẻ em 10 tuổi trở xuống uống 30g, người lớn 60 - 80g. Nằm nghỉ, đợi thật muốn đi cầu, thì pha một chậu nước ấm tới nhiệt độ thân thể (370C), ngồi vào trong chậu đại tiện một mạch không nghỉ, nếu không sán ra thì sẽ đứt mất phần đầu sán và còn sót lại. Kiểm tra xem sán có ra không, nếu ra có bị đứt phần đầu không; nếu không ra hoặc bị đứt mất phần đầu thì 5 - 6 tháng sau làm lại 1 lần nữa. Nếu có điều kiện, sau khi uống nước sắc hạt cau độ 30 phút, thì uống 1 liều thuốc tẩy nhẹ (magie sulfat 20g) thì tốt hơn. Có tài liệu nói chỉ cần ăn hạt bí rợ đã rang, giun sán cũng ra. Tùy theo điều kiện và hoàn cảnh mà chọn cách thích hợp.

- Ăn không tiêu, đau bụng, chán ăn: hạt cau, hạt cải củ rang mỗi thứ 10g, vỏ quýt một miếng, một lượng đường trắng vừa phải; trước tiên là đem hạt cau giã nát, rồi bỏ chung vào sắc, bỏ bã, cho thêm đường trắng, uống thay nước chè.

- Đại tiểu tiện không thông: hạt cau 6 - 9g, sắc uống.

- Trong miệng sinh ra những mụn trắng: cau 2 hạt, đốt cháy nghiền mịn bôi lên nốt mụn.

- Thuốc cường dương: rễ cau trắng ở dưới đất 40 - 60g, sao vàng sắc uống, dùng nhiều tán khí có hại.

- Đầy bụng do cước khí hoặc ở người già: hạt cau tán mịn, nấu nước vỏ trái cau, uống với bột hạt cau tán mịn, mỗi lần 8g.

- Hen suyễn: tua cau đốt tồn tính, mỗi lần dùng 4 - 8g, trộn với nước cơm hoặc cháo uống một ngày.

- Sỏi thận: rễ cau non, rễ cây dâu, rễ dừa, cỏ mần trầu, mỗi thứ một nắm sao vàng hạ thổ; mía lau 5 lóng, đường phèn 1 nhúm, nấu uống.

- Đi tiểu nhiều: bẹ cau 15g xắt nhỏ sao vàng, sắc uống.

- Đái rắt, đái buốt, bụng căng tức: hạt cau 15g sắc lấy nước cô đặc, để ấm hòa mật ong uống. Hạt cau 50g, xích thược 30g; nghiền thành bột, mỗi lần uống 6g với nước sôi vào lúc đói.

- Trẻ bị suy dinh dưỡng: cau nửa hạt, tim heo 300g, gạo nếp 100g; cau giã nhỏ lọc lấy 300ml nước, lấy nước đó cho nếp vào nấu thành cháo rồi cho tim heo vào nấu chín; ăn tuần 3 lần trong 2 tuần.

- Đờm dãi quá nhiều: hạt cau nghiền thành bột, mỗi lần uống 3g với nước sôi.

- Viêm thận phù nề: vỏ cau già 15g, mã thầy 50g; sắc uống.

3. Lưu ý

Người khí hư hạ hãm như sa dạ dày, sa tử cung, bạch đới nhiều…; cơ thể suy nhược mà không có thấp nhiệt không được dùng cau.

Đăng kí nhận tin